Tỷ lệ dự trữ không kỳ hạn ròng 2-10 triệu USD 1972-1980, Mỹ
Tỷ lệ dự trữ không kỳ hạn ròng 2-10 triệu USD 1972-1980, Mỹ kỳ 12-11-1980 đạt 9,5 %, theo Hội đồng Thống đốc Fed (Regulation D). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Dự trữ bắt buộc (Giá trị · Ngày), với chuỗi số liệu đầy đủ từ 09-11-1972 đến 12-11-1980. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Dự trữ bắt buộc
| Chỉ tiêu | 12-11-1980 | 30-12-1976 | 29-12-1976 | 13-02-1975 | 12-02-1975 | 19-07-1973 | 18-07-1973 | 09-11-1972 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| CƠ CHẾ CŨ 1972-1980 — BẬC THANG THEO MỨC TIỀN GỬI | |||||||||
| Không kỳ hạn ròng, 2-10 triệu USD | 9,5 | 9,5 | 10 | 10 | 10,5 | 10,5 | 10 | 10 | |
| Không kỳ hạn ròng, 10-100 triệu USD | 11,75 | 11,75 | 12 | 12 | 12,5 | 12,5 | 12 | 12 |
Hiểu về tỷ lệ dự trữ không kỳ hạn ròng 2-10 triệu USD 1972-1980, Mỹ
Tỷ lệ trích lập dự trữ áp cho lượng tiền gửi không kỳ hạn ròng nằm trong khoảng từ hai triệu đến mười triệu đô la Mỹ ở chu kỳ quản lý cũ. Phân đoạn này đại diện cho các tổ chức tín dụng quy mô trung bình nhỏ trong giai đoạn đó, chịu mức trích lập cao hơn bậc khởi điểm nhưng vẫn thấp hơn các bậc quy mô tiền gửi hàng chục hay hàng trăm triệu đô la.
Đây là chuỗi số liệu đóng vai trò tư liệu lịch sử về công cụ điều tiết lượng tiền trong lưu thông qua tỷ lệ dự trữ phân bậc. Do quy định áp dụng đã dừng lại từ lâu, các biến động trên biểu đồ giúp nhà nghiên cứu đánh giá cách thức thắt chặt thanh khoản thời kỳ đó. Khi phân tích, cần tránh nhầm lẫn giữa khoảng tiền gửi tuyệt đối này với các ngưỡng điều chỉnh lạm phát của thời kỳ hiện đại.
Câu hỏi thường gặp
- Phân đoạn tiền gửi hai đến mười triệu đô la phản ánh điều gì?
- Nó thể hiện mức chi phí dự trữ bắt buộc áp đặt lên các ngân hàng thương mại quy mô vừa trong khung quản lý lịch sử.
- Tỷ lệ này có bị điều chỉnh hồi truy không?
- Đây là chuỗi số liệu lịch sử đã đóng và giữ nguyên giá trị công bố ban đầu, không có sự điều chỉnh hay tính toán lại.
- Tại sao cơ chế phân bậc theo khoảng tuyệt đối này lại thay đổi?
- Việc áp dụng các bậc tiền gửi cố định gây ra sự bất bình đẳng khi lạm phát làm tăng quy mô tiền gửi tự nhiên của hệ thống.