Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng
Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng của Việt Nam kỳ Q2-2026 đạt 1.417,69 Nghìn tấn, theo Cục Thống kê (NSO). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Chăn nuôi (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-2022 đến Q2-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Chăn nuôi
| Chỉ tiêu | Q2-2026 | Q1-2026 | Q4-2025 | Q3-2025 | Q2-2025 | Q1-2025 | Q4-2024 | Q3-2024 | Q2-2024 | Q1-2024 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Sản lượng thịt hơi xuất chuồng | |||||||||||
| Thịt lợn | 1.417,69 | 1.439,25 | 1.349,11 | 1.339,11 | 1.333,81 | 1.358,88 | 1.324,58 | 1.287,58 | 1.241,91 | 1.293,91 | |
| Thịt gia cầm | 677,35 | 660,79 | 655,89 | 647,04 | 650,24 | 624,43 | 608,13 | 603,93 | 615,53 | 593,53 |
Hiểu về sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng
Khối lượng lợn sống được xuất khỏi khâu chăn nuôi để bán hoặc đưa đi giết mổ trong kỳ, tính theo trọng lượng hơi tại thời điểm xuất chuồng. Phạm vi không phải lượng thịt thành phẩm sau pha lọc, cũng không đồng nghĩa với khối lượng thịt bán lẻ hay lượng tiêu dùng của hộ gia đình. So với chỉ tiêu thịt hơi xuất chuồng toàn bộ vật nuôi, đây chỉ là phần đóng góp của đàn lợn, không bao gồm gia cầm, trâu, bò và các vật nuôi lấy thịt khác.
Chuỗi theo quý nên được đối chiếu trước hết với cùng kỳ để giảm ảnh hưởng của mùa vụ, chu kỳ tái đàn và thời điểm nghỉ Tết; so với quý liền trước vẫn hữu ích để nhận biết bước ngoặt ngắn hạn nhưng dễ gây hiểu sai nếu lịch xuất bán thay đổi. Cần phân biệt số của riêng từng quý với số cộng dồn từ đầu năm bằng cách xem nhãn kỳ trên biểu đồ. Kỳ gần nhất có thể là ước tính và được điều chỉnh khi thông tin đầy đủ hơn. Biến động sản lượng cũng không nên được diễn giải như biến động giá: nguồn cung tăng có thể gây áp lực giảm giá, nhưng dịch bệnh, chi phí thức ăn, trọng lượng xuất bán và nhu cầu thị trường còn có thể làm hai chuỗi đi khác hướng.
Câu hỏi thường gặp
- Vì sao sản lượng thịt lợn hơi không bằng lượng thịt lợn thành phẩm?
- Trọng lượng hơi được cân khi lợn còn sống, trước giết mổ và pha lọc. Thịt thành phẩm thấp hơn do loại bỏ xương, nội tạng và các phần hao hụt.
- Lợn được bán sang địa phương khác có được tính không?
- Chỉ tiêu gắn với nơi lợn được xuất khỏi khâu chăn nuôi, không phải nơi giết mổ hoặc tiêu thụ cuối cùng. Vì vậy luồng vận chuyển giữa các địa phương không nên được hiểu là sản lượng mới phát sinh ở nơi nhận.
- Sản lượng tăng có chắc giá heo hơi sẽ giảm không?
- Không chắc, vì giá còn phụ thuộc nhu cầu, chi phí đầu vào, dịch bệnh và lưu thông. Nên đọc chuỗi sản lượng cùng diễn biến giá thay vì suy luận trực tiếp từ một phía.