Dữ Liệu Kinh Tế

Sản lượng điện sản xuất

Sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống điện quốc gia theo tháng (tỷ kWh) và cơ cấu theo loại hình nguồn điện (thủy điện, nhiệt điện than, tua bin khí, năng lượng tái tạo — điện mặt trời/điện gió, điện nhập khẩu). Cơ cấu nguồn suy từ số lũy kế báo cáo. Nguồn: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Nguồn: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)Cập nhật cuối: 26-08-2026 00:53

Chỉ tiêu07-202605-202610-202508-202505-202504-202502-202510-202407-202405-202404-202401-202411-202310-202309-202308-202307-202304-202303-202302-202301-202310-202208-202207-202206-202205-202204-202202-202211-202110-202109-202108-202107-202105-202104-202108-202007-2020
Toàn hệ thống32,033227,2629,228,626,8522,2425,9627,728,0926,8223,9723,2224,2823,525,626,223,3623,2220,2218,3621,923,924,5524,5223,3422,6218,620,7120,2819,3321,5823,9523,9822,1921,5623,05
Sản lượng điện truyền tải22,8823,422,922,317,4420,4422,4322,518,7317,9116,118,6118,113,4915,9215,7714,7416,919,0817,1619,36

Hiểu về sản lượng điện sản xuất

Lưới số liệu này ghi nhận quy mô sản lượng điện qua các khâu cốt lõi trong toàn hệ thống năng lượng quốc gia. Phạm vi bao trùm toàn bộ lượng điện được tạo ra từ mọi nguồn trong nước cùng phần bổ sung từ nguồn nhập khẩu, sau đó chuyển dịch qua các cấp độ phân phối tiếp theo trước khi đến tay người sử dụng cuối cùng. Các định nghĩa kỹ thuật phản ánh rõ ràng hành trình vật lý của dòng năng lượng từ nhà máy phát điện đến các hộ tiêu thụ công nghiệp, thương mại và sinh hoạt.

Cấu trúc bảng được sắp xếp theo chuỗi giá trị nối tiếp từ thượng nguồn xuống hạ nguồn năng lượng. Dòng đầu tiên đóng vai trò là tổng lượng năng lượng đầu vào của toàn hệ thống, trong khi dòng thứ hai phản ánh khối lượng điện năng luân chuyển qua lưới truyền tải cao thế, và dòng cuối cùng đo lường lượng điện thương phẩm thực tế được cung cấp cho thị trường bán lẻ. Do đặc thù vận hành ngành điện, các dòng này không cộng dồn thành tổng mà thể hiện các giai đoạn chuyển hóa nối tiếp; do đó, việc so sánh cần được thực hiện dọc theo từng dòng qua các tháng để nhận diện xu hướng tăng trưởng hoặc suy giảm của từng khâu.

Khi phân tích dữ liệu, người xem cần lưu ý loại trừ các yếu tố hao hụt kỹ thuật tự nhiên phát sinh trong quá trình truyền tải và phân phối giữa các khâu. Ngoài ra, việc so sánh theo tháng cần đặt trong bối cảnh biến động thời tiết theo mùa, chẳng hạn như mùa nắng nóng cao điểm hoặc mùa mưa lũ ảnh hưởng đến hiệu suất vận hành của các nguồn phát. Việc đối chiếu với cùng kỳ năm trước mang lại góc nhìn chính xác hơn về tốc độ phát triển nhu cầu năng lượng so với việc so sánh với tháng liền trước vốn dễ bị nhiễu bởi chu kỳ nghỉ lễ dài ngày.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tổng sản lượng phát điện lại lớn hơn lượng điện thương phẩm?
Sự chênh lệch này đến từ lượng điện năng tiêu hao trong quá trình truyền tải qua lưới điện cao thế, trung thế, hạ thế và điện tự dùng tại các nhà máy.
Nên so sánh sản lượng điện giữa các tháng hay giữa các năm?
Nên ưu tiên so sánh với cùng kỳ năm trước để loại bỏ yếu tố biến động theo mùa vụ và thời tiết trong năm.
Sản lượng điện truyền tải phản ánh điều gì?
Chỉ tiêu này đo lường khối lượng điện năng được vận chuyển qua hệ thống lưới điện cao áp từ các trung tâm nguồn đến các khu vực phụ tải địa phương.

Có thể bạn quan tâm

Facebook Dữ Liệu Kinh Tế