Lãi suất huy động tiết kiệm khách hàng cá nhân BIDV 15 tháng
Lãi suất huy động tiết kiệm khách hàng cá nhân BIDV 15 tháng của Việt Nam kỳ 13-04-2026 đạt 5,9 %/năm, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Lãi suất huy động (Giá trị · Ngày), với chuỗi số liệu đầy đủ từ 09-07-2019 đến 13-04-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)
Chỉ tiêu này trong bảng Lãi suất huy động
| Chỉ tiêu | 13-04-2026 | 01-02-2026 | 15-12-2025 | 01-09-2024 | 01-08-2024 | 01-04-2024 | 19-03-2024 | 01-03-2024 | 01-02-2024 | 23-08-2023 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tiết kiệm KHCN | |||||||||||
| 15 tháng | 5,9 | 4,7 | 5,8 | ||||||||
| 18 tháng | 5,9 | 5,3 | 4,8 | 4,7 | 5 | 4,7 | 4,7 | 5 | 4,8 | 5,8 |
Hiểu về lãi suất huy động tiết kiệm khách hàng cá nhân BIDV 15 tháng
Kỳ hạn mười lăm tháng trên biểu đồ biểu thị mức lãi niêm yết theo năm cho khoản tiết kiệm cá nhân được duy trì trọn thời gian cam kết. Phạm vi này không bao hàm tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn, khoản vay hay lợi suất của sản phẩm đầu tư. Nó cũng không đồng nghĩa người gửi nhận ngay mức phần trăm hiển thị trên toàn bộ khoản tiền: số lãi còn tùy cách trả lãi và số ngày thực gửi. Điểm riêng so với dòng mười ba tháng là vốn bị ràng buộc thêm một quãng; so với dòng mười tám tháng, người gửi có ngày đáo hạn sớm hơn nhưng chưa chắc nhận mức lãi thấp hơn.
Các điểm theo ngày nên được dùng để xác định thời điểm biểu lãi thay đổi, còn quyết định gửi tiền cần dựa trên điều kiện hiệu lực tại ngày mở khoản tiết kiệm. Không nên cộng các mức lãi của nhiều ngày hoặc hiểu đường biểu diễn là lãi tích lũy. So sánh với ngày gần nhất trước đó cho biết hướng điều chỉnh; so với cùng kỳ hạn ở nơi khác cho biết vị thế tương đối; đối chiếu thêm kỳ hạn ngắn và dài hơn giúp nhận diện đoạn nào của đường cong lãi suất đang hấp dẫn. Hãy lưu ý hình thức gửi, phương thức nhận lãi, tái tục và rút trước hạn vì chênh lệch điều kiện có thể làm phép so sánh bề ngoài trở nên sai lệch.
Câu hỏi thường gặp
- Mức niêm yết theo năm có phải là tỷ lệ nhận được sau mười lăm tháng không?
- Không hoàn toàn. Đây là mức quy đổi theo năm; tiền lãi thực tế phải được tính theo thời gian gửi và phương thức trả lãi.
- Vì sao kỳ hạn mười lăm tháng có thể ngang hoặc thấp hơn kỳ hạn ngắn hơn?
- Biểu lãi phản ánh nhu cầu vốn và cách định giá theo từng dải kỳ hạn, nên quan hệ giữa thời hạn và lãi suất không luôn tăng đều.
- Nên so dòng này với kỳ hạn nào trước khi gửi?
- Hãy đối chiếu kỳ hạn mười ba tháng và mười tám tháng, đồng thời xem mức cùng kỳ hạn trên thị trường để cân bằng lợi suất với thời gian khóa vốn.