Dữ Liệu Kinh Tế

Lãi suất tiết kiệm khách hàng cá nhân MB 12 tháng

Lãi suất tiết kiệm khách hàng cá nhân MB 12 tháng của Việt Nam kỳ 25-06-2026 đạt 6,2 %/năm, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Lãi suất huy động (Giá trị · Ngày), với chuỗi số liệu đầy đủ từ 21-06-2007 đến 25-06-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)Cập nhật cuối: 14-07-2026 05:48

Chỉ tiêu này trong bảng Lãi suất huy động

Chỉ tiêu25-06-202601-02-202615-01-202601-01-202615-12-202501-12-202515-11-202501-11-202515-10-202501-10-2025
Tiết kiệm KHCN
12 tháng6,25,555,555,555,355,355,24,94,94,9
13 tháng6,2

Hiểu về lãi suất tiết kiệm khách hàng cá nhân MB 12 tháng

Một khoản tiết kiệm cá nhân cam kết đủ mười hai tháng được gắn với mức lãi suất danh nghĩa theo năm thể hiện trên biểu đồ. Vì kỳ hạn và đơn vị quy đổi cùng kéo dài một năm, chỉ tiêu dễ được dùng làm mốc tham chiếu, nhưng nó vẫn không phải lợi suất thực sau lạm phát, mức bình quân của mọi khoản gửi hay cam kết cho các khoản mở ở ngày khác. Trong bảng, kỳ hạn này dài hơn mười một tháng và thường đóng vai trò ranh giới để so nhóm kỳ hạn dưới một năm với nhóm dài hơn; sự khác biệt không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở khả năng tiếp cận vốn.

Chuỗi theo ngày nên được đọc như lịch sử của mức niêm yết có hiệu lực hoặc được ghi nhận tại từng thời điểm. So với ngày liền trước giúp phát hiện lần tăng giảm, còn so cùng thời điểm năm trước phù hợp hơn để đánh giá một chu kỳ dài, dù cần căn chỉnh ngày nghỉ và Tết. Nếu biểu thay đổi, khoản đang tồn tại không nhất thiết đổi theo; mức mới thường liên quan tới lần mở khoản hoặc tái tục theo điều kiện áp dụng. Khi so các lựa chọn một năm, phải đồng nhất cách trả lãi, kênh giao dịch, bậc số dư và quyền rút trước hạn. Lãi trả sớm có thể làm mức niêm yết khác lãi trả cuối kỳ, nên chỉ so con số đứng riêng dễ dẫn đến xếp hạng sai.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao kỳ hạn mười hai tháng thường được dùng làm mốc so sánh?
Thời hạn này trùng với chu kỳ quy đổi theo năm, giúp việc hình dung lợi tức thuận tiện hơn, dù vẫn phải xem cách tính lãi.
Mức trên biểu đồ có phải lợi suất thực không?
Không. Muốn biết lợi suất thực cần xét thêm biến động sức mua và các điều kiện ảnh hưởng đến tiền lãi nhận được.
Lãi trả đầu kỳ và cuối kỳ có so trực tiếp được không?
Không nên chỉ nhìn mức niêm yết. Thời điểm nhận tiền khác nhau làm giá trị kinh tế của hai phương án khác nhau.

Có thể bạn quan tâm

Facebook Dữ Liệu Kinh Tế