Lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm
Lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Việt Nam kỳ 31-07-2026 đạt 3,96 %/năm, theo Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Lợi suất Trái phiếu Chính phủ (Giá trị · Ngày), với chuỗi số liệu đầy đủ từ 19-03-2013 đến 31-07-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Lợi suất Trái phiếu Chính phủ
| Chỉ tiêu | 31-07-2026 | 30-07-2026 | 29-07-2026 | 28-07-2026 | 27-07-2026 | 24-07-2026 | 23-07-2026 | 22-07-2026 | 21-07-2026 | 20-07-2026 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đường cong lợi suất TPCP (thị trường thứ cấp) | |||||||||||
| 2 năm | 3,96 | 3,98 | 3,98 | 3,99 | 3,97 | 4 | 4 | 4 | 3,99 | 3,96 | |
| 3 năm | 4,03 | 4,05 | 4,04 | 4,04 | 4,05 | 4,07 | 4,08 | 4,08 | 4,06 | 4,05 |
Hiểu về lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm
Mức hai năm là lợi suất quy đổi theo năm tương ứng với trái phiếu nợ công còn khoảng hai năm trước khi hoàn trả gốc, được xác định từ mặt bằng giá trên thị trường thứ cấp. Chỉ tiêu đại diện cho một kỳ hạn chuẩn của đường cong chứ không phải lãi suất cố định áp dụng cho toàn bộ trái phiếu có ngày đáo hạn gần đó. Nó khác điểm một năm ở mức độ tiếp xúc lớn hơn với kỳ vọng lãi suất trung hạn; so với ba năm, giá của công cụ hai năm thường ít nhạy hơn trước cùng một thay đổi lợi suất.
Khi phân tích, nên tách biến động chung của toàn đường cong khỏi chuyển động riêng tại kỳ hạn hai năm. Nếu nhiều kỳ hạn cùng tăng, mặt bằng định giá có thể đang dịch chuyển; nếu chỉ điểm này thay đổi, cung cầu hoặc độ sâu giao dịch tại vùng kỳ hạn có thể là nguyên nhân. So sánh theo phiên hữu ích cho diễn biến ngắn hạn, còn so với cùng thời điểm của giai đoạn trước giúp giảm ảnh hưởng thời vụ nhưng không loại bỏ khác biệt về thanh khoản. Những ngày quanh Tết dễ có ít giao dịch. Dữ liệu được dựng từ giá thị trường có thể được hiệu chỉnh, vì vậy cần thận trọng với mức mới công bố và các đoạn gãy kỹ thuật.
Câu hỏi thường gặp
- Lợi suất hai năm tăng phản ánh điều gì?
- Nó có thể phản ánh kỳ vọng lãi suất cao hơn, nhu cầu nắm giữ yếu đi hoặc nguồn cung tương đối lớn tại vùng kỳ hạn này.
- Có thể so trực tiếp lợi suất hai năm giữa các quốc gia không?
- Có thể dùng để tham khảo, nhưng phải xét khác biệt về tiền tệ, lạm phát, thanh khoản và rủi ro thị trường.
- Vì sao giá trị trên đường cong không trùng một giao dịch cụ thể?
- Điểm chuẩn có thể được ước lượng từ nhiều trái phiếu và điều chỉnh theo thời gian còn lại đến đáo hạn.