Dữ Liệu Kinh Tế

GDP tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (giá so sánh)

GDP tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (giá so sánh) của Việt Nam kỳ Q2-2026 đạt 119.860,49 Tỷ, theo Cục Thống kê (NSO). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng GDP So Sánh (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-2010 đến Q2-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.

Nguồn: Cục Thống kê (NSO)Cập nhật cuối: 05-09-2026 04:52

Chỉ tiêu này trong bảng GDP So Sánh

Chỉ tiêuQ2-2026Q1-2026Q4-2025Q3-2025Q2-2025Q1-2025Q4-2024Q3-2024Q2-2024Q1-2024
Dịch vụ1.246.492,831.152.466,071.311.872,271.145.966,131.160.294,471.059.479,981.205.791,011.057.188,111.052.256,51975.468,73
Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm119.860,49123.272,54153.909,71128.961113.905,85111.353,44142.244,77119.485,59105.542,94104.413,88
Hoạt động kinh doanh bất động sản86.903,6484.755,07109.210,3587.131,982.624,3781.373,65104.546,6182.790,9478.641,4277.508,26

Hiểu về GDP tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (giá so sánh)

Các dịch vụ trung gian tài chính, nhận tiền gửi, cấp tín dụng, bảo hiểm và hoạt động hỗ trợ liên quan được quy về giá trị tăng thêm tại mặt bằng giá cố định trong dòng này. Phạm vi không đồng nghĩa với tổng dư nợ, tiền gửi, phí bảo hiểm hay lợi nhuận kế toán; những đại lượng đó chỉ là đầu vào để hiểu hoạt động của ngành. So với GDP tài chính, ngân hàng và bảo hiểm theo giá hiện hành, chỉ tiêu này giảm ảnh hưởng của thay đổi giá, qua đó phù hợp hơn khi đánh giá quy mô hoạt động thực qua thời gian.

Biến động giữa các quý cần được diễn giải thận trọng vì cách đo dịch vụ tài chính có thể dựa cả vào phí trực tiếp lẫn phần dịch vụ được ước tính từ chênh lệch thu nhập và chi phí vốn. So sánh cùng kỳ thường đáng tin cậy hơn để giảm nhiễu mùa vụ; so quý liền trước phù hợp khi tìm điểm ngoặt nhưng không nên tách khỏi bối cảnh tín dụng, bảo hiểm và thị trường tài sản. Các kỳ mới công bố có thể được điều chỉnh khi dữ liệu đầy đủ hơn hoặc giả định tính toán được cập nhật.

Câu hỏi thường gặp

Tín dụng tăng thì chỉ tiêu này chắc chắn tăng không?
Không chắc chắn. Giá trị tăng thêm còn phụ thuộc cơ cấu dịch vụ, chi phí trung gian, bảo hiểm và cách ước tính dịch vụ tài chính.
Chỉ tiêu có phản ánh lợi nhuận của các đơn vị tài chính không?
Không trực tiếp. Lợi nhuận kế toán và giá trị tăng thêm là hai khái niệm có phạm vi chi phí khác nhau.
Nên dùng chuỗi này hay chuỗi giá hiện hành?
Chuỗi giá so sánh thích hợp để xem tăng trưởng thực, còn chuỗi giá hiện hành cho biết quy mô bằng mặt bằng giá của từng kỳ.

Có thể bạn quan tâm

Facebook Dữ Liệu Kinh Tế