Dữ Liệu Kinh Tế

Nợ nước ngoài của quốc gia

Nợ nước ngoài của quốc gia (vay nợ ngoài nước) của Việt Nam theo năm, gồm nợ nước ngoài của khu vực công và khu vực tư nhân.

Chỉ tiêu được đối chiếu với GDP để đánh giá an toàn nợ nước ngoài và khả năng cân đối ngoại tệ; liên quan trực tiếp tới rủi ro tỷ giá.

Dữ liệu do Bộ Tài chính công bố, được Dữ Liệu Kinh Tế trình bày bằng biểu đồ trực quan. Theo dõi nợ nước ngoài của Việt Nam trên Dữ Liệu Kinh Tế.

Nguồn: Bộ Tài chính

Chỉ tiêu

Hiểu về nợ nước ngoài của quốc gia

Lưới dữ liệu này tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về nghĩa vụ tài chính đối với bên ngoài của nền kinh tế, phản ánh tổng quy mô các khoản vay và nghĩa vụ trả nợ của toàn bộ khu vực trong nước với chủ nợ nước ngoài. Phạm vi bao gồm cả các khoản nợ được chính quyền bảo lãnh, nợ của các đơn vị nhà nước và toàn bộ danh mục khoản vay của khu vực kinh tế tư nhân trên bình diện quốc tế, loại trừ các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài dạng vốn cổ phần không tính là nghĩa vụ nợ.

Cấu trúc số liệu được phân định thành các nhóm chính gồm tổng mức nợ dài hạn và ngắn hạn, chia nhỏ theo tiêu chí khu vực công, khu vực được bảo lãnh và khu vực tư nhân tự vay tự trả. Người đọc cần theo dõi cấu trúc theo chiều dọc để nắm bắt tỷ trọng đóng góp của từng nhóm chủ thể vay vốn vào tổng thể gánh nặng nợ quốc gia, đồng thời quan sát chiều ngang qua các kỳ báo cáo để nhận diện tốc độ gia tăng hoặc thu hẹp của quy mô nợ.

Khi nghiên cứu bảng này, cần lưu ý quy đổi tiền tệ do các khoản vay quốc tế thường được neo bằng nhiều ngoại tệ mạnh khác nhau, khiến biến động tỷ giá hối đoái có thể làm thay đổi giá trị danh nghĩa của nợ mà không cần có khoản vay mới phát sinh. Ngoài ra, việc so sánh quy mô nợ cần được đặt song song với quy mô của tổng sản phẩm nội địa hoặc tổng kim ngạch xuất khẩu để đánh giá đúng khả năng trả nợ thực tế của nền kinh tế thay vì chỉ nhìn vào con số tuyệt đối.

Câu hỏi thường gặp

Nợ nước ngoài gồm những thành phần chủ yếu nào?
Bao gồm các khoản vay từ các tổ chức tài chính quốc tế, chính phủ nước ngoài, các ngân hàng thương mại ngoại biên và các khoản tín dụng thương mại đối với cả khu vực công lẫn khu vực tư nhân.
Vì sao biến động tỷ giá lại ảnh hưởng đến số liệu nợ?
Do phần lớn các khoản vay được ghi nhận bằng ngoại tệ mạnh, nên khi đồng tiền nội địa suy yếu so với các ngoại tệ đó, quy mô nợ quy đổi sẽ tăng lên dù khối lượng vay thực tế không thay đổi.
Làm thế nào để đánh giá mức độ an toàn của nợ nước ngoài?
Cần xem xét tỷ lệ giữa tổng dư nợ nước ngoài so với tổng sản phẩm quốc nội và so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dịch vụ của quốc gia.

Có thể bạn quan tâm

Facebook Dữ Liệu Kinh Tế