Giá tôm sú (nước mặn) 50 con/kg Đắk Lắk
Giá tôm sú (nước mặn) 50 con/kg Đắk Lắk của Việt Nam kỳ 29-08-2026 đạt đồng/kg, theo Hiệp hội Chế biến & XK Thủy sản (VASEP). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Giá thủy sản (Giá trị · Ngày), với chuỗi số liệu đầy đủ từ 30-09-2022 đến 29-08-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Giá thủy sản
| Chỉ tiêu | 29-08-2026 | 22-08-2026 | 15-08-2026 | 08-08-2026 | 01-08-2026 | 25-07-2026 | 18-07-2026 | 11-07-2026 | 04-07-2026 | 27-06-2026 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tôm sú (nước mặn) 50 con/kg2 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | |||
| Tôm sú (nước mặn) 50 con/kg (thấp) | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | |||
| Tôm sú (nước mặn) 50 con/kg (cao) | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 | 220.000 |
Hiểu về giá tôm sú (nước mặn) 50 con/kg Đắk Lắk
Giá được theo dõi ở đây dành cho tôm sú nuôi nước mặn thuộc quy cách khoảng năm chục con trên mỗi kilôgam tại Đắk Lắk. Cách gọi theo số con biểu thị cỡ thương phẩm: với cùng một đơn vị khối lượng, số con nhiều hơn thường đồng nghĩa kích thước cá thể nhỏ hơn. Chuỗi không bao gồm tôm chân trắng, tôm sú ở môi trường khác hoặc những cỡ đếm khác. Nó cũng khác các chỉ tiêu ghi rõ mức thấp và mức cao: đây là chuỗi giá chính của nhóm quy cách, không nên tự suy diễn là ranh dưới, ranh trên hay trung bình nếu phương pháp hiển thị không nói như vậy.
Để đọc biến động, nên so với ngày liền trước khi cần theo sát giao dịch ngắn hạn, đồng thời xem một dải ngày để giảm ảnh hưởng của báo giá đơn lẻ. Đối chiếu với hai biên thấp và cao cùng quy cách giúp xác định mức giá chính nằm ở đâu trong khoảng thị trường. Giá của cỡ khoảng bốn chục con trên mỗi kilôgam thường khác do tôm lớn hơn, nên chênh lệch giữa hai cỡ không tự động phản ánh xu hướng chung. Ngày nghỉ, nguồn hàng không đồng đều và thay đổi phẩm cấp có thể làm mức giá dao động hoặc tạm thiếu.
Câu hỏi thường gặp
- Quy cách khoảng năm chục con trên mỗi kilôgam được hiểu thế nào?
- Đó là cách phân cỡ bằng số cá thể tạo thành một kilôgam. Số đếm cao hơn thường tương ứng với tôm nhỏ hơn.
- Chuỗi này có phải trung bình của mức thấp và mức cao không?
- Không nên mặc định như vậy. Chỉ có thể coi là trung bình khi phương pháp dữ liệu xác nhận rõ cách tính.
- Có thể dùng giá tôm chân trắng cùng cỡ để thay thế không?
- Không. Hai loài có đặc tính nuôi, chất lượng và thị trường tiêu thụ khác nhau, nên chỉ phù hợp để tham khảo tương quan.