Diện tích rừng trồng tập trung
Diện tích rừng trồng tập trung của Việt Nam kỳ Q2-2026 đạt 99,68 Nghìn ha, theo Cục Thống kê (NSO). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Lâm nghiệp (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-2022 đến Q2-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Lâm nghiệp
| Chỉ tiêu | Q2-2026 | Q1-2026 | Q4-2025 | Q3-2025 | Q2-2025 | Q1-2025 | Q4-2024 | Q3-2024 | Q2-2024 | Q1-2024 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Diện tích rừng trồng tập trung | 99,68 | 45,56 | 103,5 | 71,24 | 109,03 | 45,63 | 103,28 | 70,78 | 90,77 | 37,32 | |
| Số cây lâm nghiệp trồng phân tán | 31,15 | 18,99 | 15,65 | 21,48 | 24,39 | 24,21 | 45,16 | 26,44 | 21,02 | 23,61 | |
| Sản lượng gỗ khai thác | 7.412,61 | 4.337,82 | 7.752,33 | 6.703,6 | 6.951,75 | 4.345,98 | 7.242,5 | 6.073,78 | 6.261,07 | 3.670,14 |
Hiểu về diện tích rừng trồng tập trung
Diện tích rừng trồng tập trung ghi nhận phần đất được trồng mới thành vùng liền khoảnh hoặc khu trồng có quy mô đủ để quản lý như một diện tích rừng. Phạm vi thường gắn với hoạt động gây trồng trong kỳ, không đồng nghĩa với toàn bộ diện tích rừng trồng đang tồn tại, diện tích được chăm sóc hay diện tích đã khép tán. Chỉ tiêu này cũng không tính việc trồng cây rải rác ven đường, quanh nhà hoặc trên bờ vùng; phần đó thuộc chỉ tiêu cây lâm nghiệp trồng phân tán. Vì đo mặt bằng trồng rừng, kết quả được biểu thị theo diện tích chứ không theo số cây hay khối lượng gỗ.
Khi đọc biểu đồ theo quý, cần phân biệt giá trị phát sinh riêng trong quý với giá trị cộng dồn từ đầu năm; nếu là lũy kế, quý sau thường bao hàm kết quả của các quý trước. So với cùng kỳ thường hữu ích hơn so với quý liền trước vì trồng rừng phụ thuộc mùa vụ, thời tiết và lịch nghỉ Tết. Biến động cũng có thể đến từ tiến độ nghiệm thu hoặc cập nhật hồ sơ, nên kỳ gần nhất có khả năng được điều chỉnh. Không nên suy diễn diện tích tăng thành sản lượng gỗ tăng ngay, bởi cây cần thời gian sinh trưởng và hiệu quả còn tùy giống, mật độ cùng điều kiện chăm sóc.
Câu hỏi thường gặp
- Diện tích này có phải tổng diện tích rừng trồng hiện có không?
- Không. Chỉ tiêu chủ yếu phản ánh diện tích được trồng tập trung trong kỳ, không phải toàn bộ quỹ rừng trồng đang tồn tại.
- Trồng lại sau khai thác có thể được tính vào đây không?
- Có thể được ghi nhận nếu khu đất được gây trồng lại theo phạm vi thống kê áp dụng. Vì vậy, diện tích trồng mới không nhất thiết đồng nghĩa với mở rộng quỹ đất rừng.
- Vì sao diện tích giữa các quý thường chênh lệch mạnh?
- Thời vụ trồng, lượng mưa, tiến độ chuẩn bị đất và nghiệm thu có thể dồn hoạt động vào một số quý. So sánh cùng kỳ vì thế thường dễ diễn giải hơn.