Theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê, bức tranh sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Việt Nam trong tháng 4/2026 phân hóa rõ rệt: nhóm năng lượng – khai khoáng cùng phương tiện đi lại tiếp tục mở rộng, trong khi nhiều ngành chế biến và vật liệu xây dựng giảm sâu so với tháng liền trước.

Năng lượng, khai khoáng giữ nhịp cao

Khí đốt thiên nhiên dạng khí đạt 574,56 trong tháng 4/2026, mức cao nhất trong 12 kỳ gần nhất và tăng 4,2% so với 551,23 của tháng 3/2026. Dầu mỏ thô khai thác đạt 760,06, chỉ thấp hơn đôi chút so với đỉnh 765,91 của tháng trước nhưng vẫn cao hơn rõ rệt so với vùng 660–720 của nửa cuối năm 2025. Than sạch duy trì ở 4.193,18, gần như đi ngang so với 4.198,37 của tháng 3 và neo ở vùng cao của cả giai đoạn. Điện sản xuất nhích lên 28,42 từ 26,57, còn nước máy thương phẩm lập mức cao mới 380,55. Có thể xem chi tiết số liệu để theo dõi diễn biến từng nhóm sản phẩm theo tháng.

Xe máy lập đỉnh, ô tô tăng tốc

Ở nhóm hàng tiêu dùng lâu bền, xe máy đạt 381,82 nghìn chiếc – mức cao nhất trong dữ liệu 12 kỳ, tăng 4,3% so với tháng 3 và cao hơn khoảng 40% so với 271,98 nghìn chiếc của tháng 5/2025. Ô tô đạt 51,34 nghìn chiếc, tăng 13,8% so với 45,11 nghìn chiếc của tháng trước. Đường kính tiếp tục neo cao ở 250,32 – gấp nhiều lần mức 22–46 của mùa hè 2025 – dù đã hạ nhiệt so với đỉnh 314,05 của tháng 3. Bia (409,89) và thuốc lá điếu (710,04) đều phục hồi sau tháng 2 thấp điểm, phản ánh nhu cầu tiêu dùng nội địa ổn định. Ở mảng điện tử, điện thoại di động giảm còn 11,55 triệu chiếc, tiếp tục xu hướng đi xuống từ vùng 15–16 của giữa năm 2025, trong khi tivi phục hồi nhẹ lên 1.463,73.

Chế biến, vật liệu xây dựng hụt hơi

Chiều ngược lại, nhiều ngành ghi nhận mức giảm mạnh trong tháng 4/2026. Thủy hải sản chế biến chỉ đạt 202,70, giảm gần 70% so với 665,04 của tháng 3 và là mức thấp bất thường so với toàn chuỗi. Thép thanh, thép góc giảm 40,6% còn 807,90; xi măng lùi về 10,49 từ 16,65; sơn hóa học giảm còn 66,58 từ 126,21; vải dệt từ sợi tổng hợp còn 67,74 so với 107,57. Thức ăn cho thủy sản cũng hạ về 557,26 từ 855,42. Một số mặt hàng chủ lực khác giữ trạng thái ổn định: sắt, thép thô đạt 2.019,61 và thép cán 1.571,12, gần như đi ngang so với tháng trước.

Do đây là số liệu kỳ mới nhất và có thể còn được điều chỉnh, mức giảm sâu ở một số nhóm cần được theo dõi thêm ở các kỳ kế tiếp. Doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể tra cứu dữ liệu đầy đủ để cập nhật sản lượng từng mặt hàng theo từng tháng.