Đơn giá nhập khẩu nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam tiếp tục xu hướng tăng trong tháng 05-2026, đặc biệt ở nhóm năng lượng và nguyên liệu công nghiệp. Diễn biến này phản ánh sức ép chi phí đầu vào đối với sản xuất trong nước, sau giai đoạn giá hàng hóa thế giới biến động mạnh từ đầu năm. Số liệu chi tiết được công bố tại bảng Giá Nhập khẩu (đơn vị USD/tấn).
Năng lượng dẫn dắt đà tăng
Dầu thô là mặt hàng có biến động đáng chú ý nhất. Đơn giá nhập khẩu tháng 05-2026 đạt 1.013,3 USD/tấn, tăng 6,9% so với 948,1 USD/tấn của tháng 04-2026 và cao hơn gấp đôi mức đáy 470,7 USD/tấn ghi nhận hồi tháng 01-2026. Đây là tháng thứ tư liên tiếp giá dầu thô nhập khẩu đi lên, đưa mặt hàng này lên vùng giá cao nhất trong 12 kỳ gần đây.
Xăng dầu các loại đã hạ nhiệt nhưng vẫn neo ở mức cao, đạt 1.377,2 USD/tấn, giảm 15,5% so với đỉnh 1.629,0 USD/tấn của tháng 04-2026. So với mức 645,9 USD/tấn của tháng 01-2026, giá xăng dầu nhập khẩu hiện vẫn cao hơn khoảng 113%. Khí đốt hóa lỏng gần như đi ngang, đạt 889,7 USD/tấn so với 905,9 USD/tấn tháng trước, song vẫn cao hơn 58% so với đầu năm. Riêng than các loại lập mức cao nhất 12 kỳ với 121,5 USD/tấn, tăng từ 114,2 USD/tấn.
Nguyên liệu công nghiệp tiếp tục đắt lên
Nhóm nguyên liệu phục vụ sản xuất ghi nhận mặt bằng giá nhập khẩu cao rõ rệt. Cao su tăng 8,6% so với tháng trước, lên 2.027,5 USD/tấn, mức cao nhất chuỗi số liệu và cao hơn 30,3% so với 1.556,1 USD/tấn của tháng 06-2025. Chất dẻo nguyên liệu bật tăng 11,3%, đạt 1.597,1 USD/tấn sau nhiều tháng dao động quanh 1.250 USD/tấn. Xơ, sợi dệt các loại lập đỉnh 2.601,4 USD/tấn, tăng 5,9% so với tháng 04-2026.
Kim loại thường khác duy trì xu hướng tăng đều đặn và liên tục thiết lập mức cao mới, đạt 5.934,9 USD/tấn, tăng 26,6% so với 4.689,7 USD/tấn một năm trước. Sắt thép các loại nhích lên 735,9 USD/tấn, trong khi phế liệu sắt thép tăng từ 312,9 lên 359,5 USD/tấn. Phân bón các loại phục hồi nhẹ lên 340,3 USD/tấn.
Nông sản phân hóa
Ở nhóm nông sản, diễn biến giá có sự phân hóa. Hạt điều giảm 2,9% xuống 1.672,5 USD/tấn, đứt chuỗi tăng kéo dài và lùi khỏi đỉnh 1.722,3 USD/tấn của tháng 04-2026, song vẫn cao hơn 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Sắn và các sản phẩm từ sắn giảm còn 163,4 USD/tấn. Ngược lại, lúa mì tăng mạnh lên 271,2 USD/tấn từ 251,2 USD/tấn, còn ngô và đậu tương gần như ổn định, lần lượt ở mức 256,0 và 479,2 USD/tấn.
Nhìn chung, tháng 05-2026 cho thấy áp lực chi phí nhập khẩu tập trung ở năng lượng và nguyên liệu công nghiệp, trong khi nhóm lương thực, thực phẩm có dấu hiệu hạ nhiệt cục bộ. Các con số cập nhật theo tháng có thể tham khảo đầy đủ trong bảng Giá Nhập khẩu, nguồn Tổng cục Thống kê.
