Vay ngắn hạn (F41) Luxembourg
Vay ngắn hạn (F41) Luxembourg của Châu Âu kỳ Q1-2026 đạt 39 Triệu EUR, theo Eurostat. Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Nợ chính phủ (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-1998 đến Q1-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Nợ chính phủ
| Chỉ tiêu | Q1-2026 | Q4-2025 | Q3-2025 | Q2-2025 | Q1-2025 | Q4-2024 | Q3-2024 | Q2-2024 | Q1-2024 | Q4-2023 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vay ngắn hạn (F41) | |||||||||||
| Luxembourg | 39 | 49,3 | 46,4 | 58,3 | 74,9 | 93,5 | 82,9 | 100,8 | 96,1 | 122,8 | |
| Croatia | 115,1 | 162,1 | 106,4 | 102,5 | 109,8 | 83,3 | 182,5 | 234,1 | 246,8 | 187,3 |
Hiểu về vay ngắn hạn (F41) Luxembourg
Thước đo này phản ánh tổng giá trị danh nghĩa của các khoản tín dụng và khoản vay có thời hạn đáo hạn gốc ban đầu dưới một năm do khu vực công thuộc Luxembourg huy động và quản lý. Phạm vi bao gồm các khoản vay trực tiếp từ các tổ chức tín dụng nội địa và quốc tế, nhưng không bao gồm các nghĩa vụ nợ phát sinh từ việc phát hành trái phiếu hoặc các giấy tờ có giá dài hạn. Khác với các khoản vay dài hạn chịu áp lực lãi suất dài hạn, cấu phần ngắn hạn này phản ánh nhu cầu thanh khoản mang tính linh hoạt cao và áp lực đảo nợ thường xuyên của chính quyền.
Việc phân tích đòi hỏi sự cẩn trọng đối với các đợt điều chỉnh hồi tố khi cơ quan thống kê nhận được báo cáo quyết toán chính thức từ các định chế tài chính cho vay. Do đặc thù trung tâm tài chính lớn, các dòng vốn vay ngắn hạn tại đây có thể chịu tác động mạnh từ biến động thị trường tiền tệ quốc tế qua từng quý. Chuyên gia thường khuyến nghị so sánh quy mô này với cùng kỳ năm trước thay vì chỉ nhìn vào mức thay đổi so với quý liền trước để tránh những hiểu lầm do yếu tố mùa vụ tài chính gây ra.
Câu hỏi thường gặp
- Chỉ tiêu này phản ánh những nghĩa vụ nợ nào của khu vực công?
- Đây là tổng dư nợ từ các khoản tín dụng và vay mượn trực tiếp có thời hạn ban đầu dưới một năm.
- Sự khác biệt giữa khoản vay ngắn hạn và trái phiếu dài hạn là gì?
- Khoản vay ngắn hạn là tín dụng đàm phán trực tiếp có kỳ hạn dưới một năm, trong khi trái phiếu là chứng khoán nợ có kỳ hạn dài hơn.
- Có cần lưu ý điều gì về các đợt công bố số liệu định kỳ không?
- Số liệu thường là ước tính ban đầu ở kỳ công bố gần nhất và có thể được điều chỉnh khi có báo cáo tài chính chính xác hơn.