Dữ Liệu Kinh Tế

Lợi suất trái phiếu 10 năm Hy Lạp

Lợi suất trái phiếu 10 năm Hy Lạp của Châu Âu kỳ 07-2026 đạt 3,79 %/năm, theo Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB Data Portal). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Lợi suất trái phiếu chính phủ các nước (Giá trị · Tháng), với chuỗi số liệu đầy đủ từ 10-1992 đến 07-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.

Nguồn: Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB Data Portal)Cập nhật cuối: 13-08-2026 16:47

Chỉ tiêu này trong bảng Lợi suất trái phiếu chính phủ các nước

Chỉ tiêu07-202606-202605-202604-202603-202602-202601-202612-202511-202510-2025
Hy Lạp3,793,643,753,783,713,393,433,443,33,3
Slovakia3,733,623,513,563,53,273,413,473,373,39
Bulgaria4,094,094,093,953,933,933,933,933,933,93

Hiểu về lợi suất trái phiếu 10 năm Hy Lạp

Khoản đo lường này phản ánh mức lãi suất mà thị trường tài chính yêu cầu đối với các giấy tờ có giá kỳ hạn dài do nhà nước phát hành, thể hiện qua giao dịch mua bán thực tế thay vì mức công bố ban đầu. Khác biệt cốt lõi so với các khoản vay ngắn hạn nằm ở chỗ nó chịu chi phối mạnh mẽ bởi triển vọng lạm phát dài hạn, tâm lý rủi ro toàn cầu và uy tín tín dụng quốc gia thay vì chỉ phụ thuộc vào điều hành thanh khoản ngắn hạn. Phạm vi ghi nhận bao gồm các giao dịch thứ cấp trên thị trường mở, hoàn toàn tách biệt khỏi các khoản nợ tư nhân hay trái phiếu doanh nghiệp.

Việc giải mã số liệu đòi hỏi sự thận trọng trước các biến động ngắn hạn mang tính thời điểm do tâm lý giới đầu tư thay đổi nhanh chóng theo các sự kiện chính trị hoặc các quyết định điều hành lãi suất điều tiết chung. Khi phân tích xu hướng, người theo dõi thường đối chiếu với mức trung bình của khu vực dùng chung đồng tiền chung để nhận diện khoảng cách rủi ro, thay vì chỉ nhìn vào sự tăng giảm đơn lẻ của từng tháng. Ký hiệu đơn vị tính được quy về phần trăm trên mỗi chu kỳ năm để thuận tiện cho việc so sánh chéo qua các thời kỳ.

Câu hỏi thường gặp

Khoản mục này đo lường điều gì trên thị trường tài chính?
Đây là mức lợi suất mà nhà đầu tư đòi hỏi khi nắm giữ giấy tờ nợ dài hạn phát hành bởi nhà nước.
Vì sao chỉ số này thường biến động mạnh theo từng tháng?
Biến động xuất phát từ tâm lý dịch chuyển dòng vốn quốc tế và đánh giá rủi ro tín dụng thay đổi liên tục.
Có nên so sánh trực tiếp chỉ số này với các nền kinh tế khác không?
Có thể đối chiếu để thấy mức độ bù đắp rủi ro nhưng cần lưu ý sự khác biệt về nền tảng kinh tế vĩ mô.

Có thể bạn quan tâm

Facebook Dữ Liệu Kinh Tế