Giá trị giao dịch nhà đã qua sử dụng Slovenia
Giá trị giao dịch nhà đã qua sử dụng Slovenia của Châu Âu kỳ Q1-2026 đạt 474.695.181 EUR, theo Eurostat. Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Giá trị giao dịch nhà ở (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-2014 đến Q1-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Giá trị giao dịch nhà ở
| Chỉ tiêu | Q1-2026 | Q4-2025 | Q3-2025 | Q2-2025 | Q1-2025 | Q4-2024 | Q3-2024 | Q2-2024 | Q1-2024 | Q4-2023 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Nhà đã qua sử dụng | |||||||||||
| Slovenia | 474.695.181 | 479.340.310 | 433.530.198 | 472.169.001 | 396.581.038 | 353.576.257 | 261.833.394 | 306.313.218 | 294.034.268 | 331.334.744 | |
| Pháp | 51.053.413.383 | 63.148.018.324 | 63.836.157.606 | 54.876.448.357 | 52.205.649.373 | 53.799.939.177 | 56.790.016.656 | 47.375.281.189 | 40.203.714.252 | 50.856.721.209 |
Hiểu về giá trị giao dịch nhà đã qua sử dụng Slovenia
Hệ thống số liệu về nhà ở đã qua sử dụng ở Slovenia theo dõi sát sao dòng tiền dịch chuyển qua lại giữa các chủ sở hữu nhà đất cũ, ngoại trừ các tài sản thuộc sở hữu nhà nước chưa được cổ phần hóa hoặc nhà ở tái định cư. Tiêu chí này khác biệt với các dữ liệu về cấp phép xây dựng mới ở chỗ nó phản ánh trực tiếp sức mua thực tế của người dân trên nền tài sản hiện hữu thay vì tiềm năng cung ứng.
Người theo dõi kinh tế nên thận trọng trước các biến động bất thường vào giai đoạn giữa năm do đặc thù nghỉ lễ kéo dài làm chậm trễ tiến độ ghi nhận hồ sơ giao dịch. Các con số mới nhất thường ở trạng thái sơ bộ và được chuẩn hóa dần qua các kỳ công bố tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp
- Giao dịch nhà ở nông thôn có được đưa vào bảng thống kê này không?
- Toàn bộ các bất động sản nhà ở trên phạm vi quốc gia có phát sinh chuyển nhượng đều được tổng hợp.
- Vì sao số liệu lịch sử thỉnh thoảng lại được sửa đổi ở kỳ sau?
- Do các hồ sơ pháp lý trễ hạn mới được bổ sung vào cơ sở dữ liệu chung của ngành.
- Chỉ số này có phản ánh chi phí xây dựng nhà mới không?
- Không, vì giá trị phụ thuộc vào tuổi thọ công trình, vị trí sẵn có và độ hao mòn thực tế.