Dữ Liệu Kinh Tế

Việc làm ngành hành chính công, giáo dục và y tế ở Đức

Việc làm ngành hành chính công, giáo dục và y tế ở Đức của Châu Âu kỳ Q2-2026 đạt 12.530 Nghìn Người, theo Eurostat. Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Việc làm theo ngành (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-1991 đến Q2-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.

Nguồn: EurostatCập nhật cuối: 08-09-2026 21:01

Chỉ tiêu này trong bảng Việc làm theo ngành

Chỉ tiêuQ2-2026Q1-2026Q4-2025Q3-2025Q2-2025Q1-2025Q4-2024Q3-2024Q2-2024Q1-2024
Hành chính công, giáo dục và y tế
Đức12.53012.48512.43812.39512.35212.30612.25312.20412.14412.098
Pháp8.980,38.968,78.968,18.965,18.954,28.950,98.954,68.948,78.926,58.905,6

Hiểu về việc làm ngành hành chính công, giáo dục và y tế ở Đức

Mức độ gắn bó của người lao động với các khối việc làm công vụ, cơ sở giáo dục và hệ thống y tế tại nước Đức được phản ánh qua tập hợp dữ liệu này. Phạm vi tính toán gom giữ toàn bộ nhân sự biên chế lẫn hợp đồng phục vụ trong trường học công lập, bệnh viện, phòng khám cùng các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, loại trừ những người làm việc trong các ngành thương mại thuần túy hoặc sản xuất công nghiệp nặng vốn thuộc các bảng thống kê riêng biệt. Khác với các chỉ tiêu đo lường khu vực tư nhân chịu nhiều biến động theo chu kỳ kinh tế ngắn hạn, khối việc làm công này thường duy trì sự ổn định cao nhờ vào ngân sách công.

Người tra cứu cần lưu ý rằng thông tin được cập nhật theo chu kỳ quý và thường trải qua các đợt điều chỉnh hồi tố khi có thêm dữ liệu chi tiết từ các đơn vị cơ sở. Khi phân tích xu hướng, việc so sánh với cùng kỳ năm trước tỏ ra hữu ích hơn so với việc đối chiếu trực tiếp giữa hai quý liền kề nhằm loại bỏ các yếu tố biến động theo mùa vụ như lịch nghỉ hè của trường học hay các đợt tuyển dụng nhân sự y tế công cộng diễn ra vào đầu năm.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ tiêu này có tính cả những người làm việc bán thời gian trong bệnh viện công không?
Có, dữ liệu gom cả nhân sự làm việc toàn thời gian lẫn bán thời gian hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước.
Vì sao số liệu ngành y tế và giáo dục lại ít biến động hơn các ngành sản xuất?
Do các dịch vụ này được bảo đảm bằng nguồn tài chính công và nhu cầu xã hội luôn duy trì ở mức ổn định.
Tại sao các kỳ công bố gần nhất thường hay có sự thay đổi so với số liệu ban đầu?
Do quy trình thu thập thông tin từ các cơ sở y tế và giáo dục địa phương cần nhiều thời gian để tổng hợp chính xác.

Có thể bạn quan tâm

Facebook Dữ Liệu Kinh Tế