Dữ Liệu Kinh Tế

Nợ phải trả khác nguồn vốn Trung Quốc

Nợ phải trả khác nguồn vốn Trung Quốc kỳ 07-2026 đạt 55.994,59 Tỷ CNY, theo Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC). Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Bảng cân đối tổ chức tín dụng (Giá trị · Tháng), với chuỗi số liệu đầy đủ từ 01-2006 đến 07-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.

Nguồn: Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC)Cập nhật cuối: 16-08-2026 14:30

Chỉ tiêu này trong bảng Bảng cân đối tổ chức tín dụng

Chỉ tiêu07-202606-202605-202604-202603-202602-202601-202612-202511-202510-2025
TỔNG NGUỒN VỐN491.510,03491.621,63488.651,8487.684,66488.741,72484.945,75483.249,69473.638,57471.886,5469.125,53
Nợ phải trả khác55.994,5955.808,9956.401,4155.506,754.979,7954.598,8854.468,4553.593,9854.903,4353.793,69
Nợ phải trả với doanh nghiệp và hộ gia đình298.546,63300.687,9296.961,93297.035,67300.122,45294.313,48294.582,69289.390,45286.077,84284.685,27

Hiểu về nợ phải trả khác nguồn vốn Trung Quốc

Khoản mục này tổng hợp toàn bộ các nghĩa vụ tài chính chưa được phân loại vào các nhóm tiền gửi hay phát hành giấy tờ có giá thông thường trong toàn hệ thống ngân hàng thương mại. Phạm vi bao gồm các khoản phải trả nội bộ, các khoản quỹ chờ xử lý, các khoản ký quỹ, tạm thu và những nguồn vốn tài trợ đặc thù khác từ các đối tác trong nền kinh tế. Chỉ tiêu này khác với các khoản tiền gửi truyền thống hoặc vay mượn liên ngân hàng ở chỗ nó mang tính chất kỹ thuật và phát sinh từ các nghiệp vụ nghiệp vụ trung gian phức tạp hơn.

Khi theo dõi số liệu công bố theo tháng, người xem cần chú ý đến yếu tố biến động bất thường do các khoản trích lập dự phòng hoặc quyết toán cuối năm tài chính. Số liệu kỳ gần nhất thường là ước tính ban đầu và có xu hướng được điều chỉnh khi có báo cáo kiểm toán đầy đủ hơn. Việc so sánh nên thực hiện giữa cùng kỳ năm trước để loại trừ các chu kỳ thanh khoản mùa vụ thường gặp trong hệ thống tài chính.

Câu hỏi thường gặp

Khoản mục này bao gồm những loại nghĩa vụ tài chính nào?
Nó gồm các khoản phải trả nội bộ, quỹ chờ xử lý, khoản ký quỹ và các nguồn tài trợ đặc thù không thuộc tiền gửi thông thường.
Vì sao số liệu thường có sự điều chỉnh mạnh vào các tháng cuối năm?
Thời điểm cuối năm là lúc các tổ chức tín dụng thực hiện trích lập dự phòng, xử lý quỹ nghiệp vụ và tất toán các khoản phải trả kỹ thuật.
Có nên so sánh số dư giữa hai tháng liên tiếp không?
Không nên dựa hoàn toàn vào biến động tháng liền trước vì khoản mục này chịu ảnh hưởng lớn từ các nghiệp vụ kỹ thuật ngắn hạn.

Có thể bạn quan tâm

Facebook Dữ Liệu Kinh Tế