Sản lượng của khu vực chính phủ Romania
Sản lượng của khu vực chính phủ Romania của Châu Âu kỳ Q1-2026 đạt 16.776,9 Triệu EUR, theo Eurostat. Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Thu chi ngân sách chi tiết (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-1995 đến Q1-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Thu chi ngân sách chi tiết
| Chỉ tiêu | Q1-2026 | Q4-2025 | Q3-2025 | Q2-2025 | Q1-2025 | Q4-2024 | Q3-2024 | Q2-2024 | Q1-2024 | Q4-2023 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Sản lượng của khu vực chính phủ | |||||||||||
| Romania | 16.776,9 | 18.991,4 | 17.811,4 | 17.798,4 | 15.487,6 | 20.481,7 | 17.428,4 | 17.421,3 | 14.630,7 | 17.737,1 | |
| Séc | 16.198,7 | 20.120,4 | 16.732,5 | 16.278,1 | 15.026,4 | 18.028 | 15.269,5 | 15.224,1 | 14.245,2 | 17.391,4 |
Hiểu về sản lượng của khu vực chính phủ Romania
Đại lượng này thể hiện tổng giá trị sản lượng do hệ thống cơ quan công quyền Romania tạo ra thông qua việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ không mang tính thương mại. Cơ cấu gồm chi phí nhân công khu vực công, giá trị hao mòn tài sản cố định và các khoản chi mua sắm trung gian, loại trừ các khoản chi trả nợ và các khoản trợ cấp không gắn với dịch vụ cụ thể. Khác với các chỉ tiêu đo lường thuế hay thu nhập quốc gia, số liệu này tập trung hoàn toàn vào phía chi phí sản xuất của khu vực nhà nước.
Các cơ quan thống kê cung cấp số liệu theo từng quý, trong đó các kỳ gần đây thường là ước tính nhanh và có thể được điều chỉnh lại trong các kỳ công bố sau. Người xem cần lưu ý so sánh dữ liệu với quý tương ứng của năm trước thay vì kỳ liền trước để tránh bị nhiễu bởi các chu kỳ hành chính trong năm. Sự thay đổi trong quy định phân loại hoặc các kỳ nghỉ dài ngày thường tạo ra những biến động kỹ thuật không phản ánh đúng thực lực kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
- Chỉ tiêu này đo lường khía cạnh nào của khu vực công?
- Nó đo tổng chi phí sản xuất dịch vụ công cộng không nhằm mục đích bán kiếm lời.
- Số liệu công bố có thể bị thay đổi ở các kỳ sau không?
- Có, số liệu ước tính ban đầu thường được điều chỉnh khi có dữ liệu quyết toán hoàn chỉnh.
- Vì sao phải thận trọng khi so sánh hai quý liên tiếp?
- Các yếu tố thời vụ và thói quen giải ngân dồn dập cuối năm dễ làm lệch hướng đánh giá.