Tích lũy tài sản cố định gộp Litva
Tích lũy tài sản cố định gộp Litva của Châu Âu kỳ Q1-2026 đạt 409,6 Triệu EUR, theo Eurostat. Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Thu chi ngân sách chi tiết (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-1999 đến Q1-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Thu chi ngân sách chi tiết
| Chỉ tiêu | Q1-2026 | Q4-2025 | Q3-2025 | Q2-2025 | Q1-2025 | Q4-2024 | Q3-2024 | Q2-2024 | Q1-2024 | Q4-2023 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tích luỹ tài sản cố định gộp | |||||||||||
| Litva | 409,6 | 1.561,1 | 649,2 | 778,4 | 458,3 | 1.380,2 | 748 | 723,7 | 474,6 | 1.473,5 | |
| Slovenia | 1.010,7 | 1.233,7 | 958,8 | 921,5 | 825,7 | 957,6 | 878,9 | 817,9 | 807,2 | 951,3 |
Hiểu về tích lũy tài sản cố định gộp Litva
Quốc gia vùng Baltic ghi nhận tổng giá trị các tài sản cố định được đưa vào khai thác thông qua hoạt động mua sắm thiết bị, xây dựng công trình và phát triển phần mềm độc quyền. Khoản mục này loại trừ toàn bộ hàng hóa tồn kho, nguyên liệu sản xuất chờ chế biến và các tài sản tài chính ngắn hạn. Điểm khác biệt so với các khoản chi ngân sách thông thường nằm ở tính chất tạo lập năng lực sản xuất mang lại lợi ích kéo dài qua nhiều năm.
Số liệu được chuẩn hóa và phát hành theo quý, đi kèm thông lệ điều chỉnh hồi tố khi có thêm dữ liệu từ các cuộc tổng điều tra kinh tế. Khi đọc biểu đồ, người xem cần đề phòng cái bẫy biến động giá cả vật liệu xây dựng có thể làm lu mờ khối lượng vật chất thực tế. Việc so sánh nên thực hiện giữa các kỳ tương ứng của năm trước thay vì so với kỳ liền kề trước đó.
Câu hỏi thường gặp
- Trang thiết bị y tế tại bệnh viện có được tính vào đây không?
- Máy móc và thiết bị chuyên dụng có giá trị lớn tại các cơ sở y tế đều được tính là tài sản cố định.
- Có cần loại bỏ yếu tố lạm phát khi theo dõi chỉ tiêu này không?
- Việc sử dụng biểu đồ theo giá thực tế cần được bổ sung thêm góc nhìn từ chuỗi số liệu đã loại trừ biến động giá.
- Tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu này nói lên điều gì?
- Nó thể hiện mức độ tự tin của cộng đồng doanh nghiệp và nhà nước vào triển vọng phát triển kinh tế dài hạn.