Chi trả lãi Đức
Chi trả lãi Đức của Châu Âu kỳ Q1-2026 đạt 12.135 Triệu EUR, theo Eurostat. Đây là chỉ tiêu thuộc bảng Thu chi ngân sách chi tiết (Giá trị · Quý), với chuỗi số liệu đầy đủ từ Q1-2002 đến Q1-2026. Chuỗi số liệu đầy đủ và biểu đồ tương tác, tải về miễn phí.
Chỉ tiêu này trong bảng Thu chi ngân sách chi tiết
| Chỉ tiêu | Q1-2026 | Q4-2025 | Q3-2025 | Q2-2025 | Q1-2025 | Q4-2024 | Q3-2024 | Q2-2024 | Q1-2024 | Q4-2023 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Chi trả lãi | |||||||||||
| Đức | 12.135 | 12.390 | 12.351 | 13.132 | 11.385 | 11.208 | 11.671 | 12.739 | 10.210 | 9.969 | |
| Pháp | 13.462,9 | 16.720,4 | 16.422,9 | 19.268,3 | 13.309,4 | 15.321,9 | 15.329,6 | 18.805,3 | 10.674,1 | 15.336,4 |
Hiểu về chi trả lãi Đức
Khoản tiền thực tế mà khu vực công tại nền kinh tế đầu tàu lục địa phải thanh toán cho các chủ nợ để dịch vụ hóa các khoản nợ công trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này chỉ tính các khoản chi trả lãi suất thuần túy cho các loại giấy tờ có giá, trái phiếu đã phát hành hoặc các khoản vay tài chính, loại trừ hoàn toàn phần gốc phải hoàn trả khi đáo hạn. Khác với các khoản đầu tư phát triển hạ tầng hay chi tiêu thường xuyên cho giáo dục, y tế, đây là dòng tiền đi ra mang tính chất bắt buộc theo cam kết tài chính trước đó của nhà nước.
Số liệu được tổng hợp theo quý và cập nhật định kỳ khi có thông tin mới từ các cơ quan thống kê khu vực, thường qua các lần ước tính ban đầu trước khi có số quyết toán chính thức. Khi theo dõi biến động, người xem cần chú ý đến chu kỳ đáo hạn của các đợt phát hành nợ lớn, vì chúng có thể làm dòng tiền chi trả đội lên đột biến trong một vài kỳ nhất định mà không phản ánh xu hướng chi tiêu dài hạn. Việc so sánh giữa quý hiện tại với cùng kỳ năm trước tỏ ra hữu ích hơn so với việc đối chiếu liền quý nhằm loại bỏ các yếu tố biến động theo mùa vụ tài chính.
Câu hỏi thường gặp
- Khoản chi trả này có bao gồm tiền gốc vay mượn phải trả lại các chủ nợ không?
- Không, chỉ tiêu này chỉ phản ánh phần tiền lãi phát sinh, hoàn toàn tách biệt với phần gốc phải hoàn trả khi các khoản nợ đến hạn.
- Vì sao số liệu giữa các quý thường có sự chênh lệch lớn dù chính sách không đổi?
- Biến động thường xuất phát từ lịch trình trả lãi của các đợt phát hành trái phiếu tập trung vào một số kỳ nhất định trong năm.
- Số liệu này có được điều chỉnh sau lần công bố đầu tiên hay không?
- Có, các cơ quan chuyên môn thường xuyên cập nhật và điều chỉnh lại số liệu khi có thêm dữ liệu tài chính chính xác hơn từ hệ thống kho bạc.